Vương quốc truyền thông của Kerry Packer

Với bản thân Packer, cuộc đời là một canh bạc lớn (life was one big gamble): vào năm 1990 ông bị một cơn đau tim lớn (a massive heart attack) tưởng chừng như chào thua vĩnh viễn
Trước năm 1977, tại Úc người ta không bao giờ nghĩ môn bóng cricket (cricket) có thể được thương mại hóa (commercialise). Môn thể thao gần giống như bóng chày (baseball) của Mỹ này được coi là môn chơi của những bậc chính nhân quân tử (gentlemen) cho nên chẳng ai nghĩ đến việc tài trợ (financial sponsorship) và những hợp đồng dài hạn (long-term contracts). Khi ra sân, cầu thủ chỉ nghĩ đến việc “chơi đẹp” (fair play) và cao hơn nữa là sự vinh quang của tổ quốc (national glory). Mặc dù bản thân cricket là môn chơi của sự sôi nổi (excitement) nhưng đây là môn thể thao kén khán giả (poor spectator sport) và rất khó hấp dẫn người xem trên truyền hình.
Kerry Packer là người sở hữu Kênh 9 (Channel Nine), hệ truyền hình thương mại thành công nhất và lớn nhất nước Úc (Australia’s biggest and most successful commercial television network). Ông vốn là một võ sĩ quyền Anh hạng nặng (heavyweight boxer) khi còn đi học và ưa thích môn bóng chày trên ngựa Polo, Packer muốn truyền hình các trận cricket đến cả nước. Vào năm 1976 ông đề nghị mua bản quyền độc quyền (exclusive right) truyền hình trực tiếp (live broadcast) các trận quốc gia và quốc tế (national and international games) môn cricket. Hiệp hội cricket Úc (Australian Cricket Board – ABC) chấp nhận đề nghị của ông với giá 1,5 triệu đôla Úc (Australian dollar), cao hơn gấp 7 lần giá bình thường (seven times the usual fee).
Việc truyền hình trực tiếp cricket trên Kênh 9 đã được cải tiến rất nhiều để thu hút người xem. Máy quay được đặt tại hai đầu sân (camera were put at both ends of the pitch) để khán giả có thể thấy phản ứng của cầu thủ đánh bóng (reactions of the batsmen) và micro được gắn vào cột gôn (microphones fitted on the stumps) giúp khán giả có thể nghe được những âm thanh cụ thể (specific sounds) trên sân. Ngoài ra, các trận đấu có thể diễn ra dưới ánh đèn chiếu vào ban đêm (matches were sometimes played by floodlights at night). Packer cũng tập hợp các tuyển thủ như Tony Greig, thủ quân đội Anh (captain of England), hoặc các cầu thủ người Nam Phi (Sound Africa) bị cấm thi đấu giải thế giới trong thời kỳ phân biệt chủng tộc (banned from the world game during apartheid) thành một đội bóng riêng của mình.
Cuộc đời của Packer được mô tả là một sự tàn nhẫn theo kiểu giang hồ (swashbuckling ruthlessness), ông là kết hợp của một kẻ đả phá thần tượng (iconoclast), một dân chơi (playboy) và cũng là một người với bản năng đầy ấn tượng (impressive instinct) trong việc biết được khi nào nên mua vào (when to buy) và khi nào nên tỏ ra dữ dằn (when to get nasty). Cha ông, Sir Frank Packer, đã hình thành một đế chế truyền thông (media empire) bao gồm hai đài truyền hình (TV station), 5 đài phát thanh (radio station), tờ Sydney Daily Telegraph, 9 tờ báo tỉnh (provincial paper) và 60% tạp chí xuất bản tại Úc. Đến thời Packer, ông dựa vào nền tảng vững chãi đó đã nhanh chóng thống trị nước Úc về mặt tài chính và thương mại (rapidly dominate Australia financially and commercially).
Năm 1972, tức 2 năm trước khi Packer trở thành Chủ tịch (Chairman), ông đã thuyết phục (persuade) cha ông bán tờ Telegraph cho Rupert Murdoch, đối thủ lớn nhất ở truyền hình, chứ không phải ở báo chí (the future lay with televisions, not newspapers) và ông đã đổ tiền vào Kênh 9. Đến năm 1987, khi Kênh 9 giá 1 tỷ đôla Úc. Chỉ 3 năm sau, ông mua lại Kênh 9 với giá bằng 1/4 giá bán ban đầu (a quarter of the original sale price). Ông đã từng nhận xét một cách hóm hỉnh: “Suốt một đời người mới chỉ có một Alan Bond (You only get one Alan Bond in your life)”. Cũng vào tháng 10.1987, Packet thanh lý phần cổ phiếu mình nắm giữ (liquidate his stock holding) và ngay sau đó thị trường cổ phiếu suy sụp (stock market crashed).
Kerry Packet từ trần ngày 26.12.2005, người giàu nhất nước Úc (Australia’s richest man) để lại tài sản (asset) trị giá 7 tỷ đôla Úc. Đây là một số tiền không nhỏ đối với một người được mô tả là “không có tài năng rõ rệt” (no obvious ability). Lúc còn nhỏ, ông đã từng phải nghỉ học 2 năm vì bệnh bại liệt (lost 2 years’ schooling with polio) và công việc đầu tiên của ông trong công ty của bố là chuyển báo vào máy xếp báo (his first job in his father’s firm had been to shovel newspapers on to the loading machine). Packer đầu tư tiển bạc vào những nơi nghỉ dưỡng trượt tuyết (ski resort), sòng bạc (casino), ngựa dùng trong môn chơi polo (polo pony), mỏ kim cương (diamond mine), trại gia súc (cattle station), dầu mỏ (oil), các công trình xây dựng (engineering works) và nhiều khu đất rộng (vast tracts of land) ở Queensland và New South Wales.
Hàng triệu đôla đã được hiến tặng cho từ thiện (charity) mà đôi khi được cho đi học một cách bí mật (sometimes given secretly) nhưng cũng cho đến hàng triệu đôla tiêu xài trên các sòng bạc tại Luân Đôn và Las Vegas (spent over casinos in London and Las Vegas). Dù thích ở trong nước hơn nhưng không sòng bạc nào tại Úc có thể chịu nổi tiền cược của Packer (no Australian casino could handle Packer’s wagers). Người ta nói trong suốt ba tuần vận rủi (three-week losing treak) ông thua đến 28 triệu nhưng, nói chung, ông gặp vận may nhiều hơn là vận rủi (he came up with more good than ill luck). Với bản thân Packer, cuộc đời là một canh bạc lớn (life was one big gamble): vào năm 1990 ông bị một cơn đau tim lớn (a massive heart attack) tưởng chừng như chào thua vĩnh viễn.
Chưa đến Việt Nam lần nào nhưng tập đoàn báo chí của Packer , Australian Consolidated Press (ACP), đã vào đầu tư tại Việt Nam thông qua Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract) với Bộ kế hoạch & đầu tư (Ministry of Planning & Investmnet – MPI) để xuất bản tờ Vietnam Investment Review (VIR).
18/06/2016 , Nguyễn Ngọc Chính – Kiến thức ngày nay – Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2006

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *